Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
1.1 Nộp trực tiếp tại Tòa án;
1.2 Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
1.3 Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
|
2.1 |
- Đối với trường hợp nộp trực tiếp: Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện - Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính: thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. - Đối với trường hợp nhận khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). |
Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn. Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). |
|
2.2 |
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện |
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. |
|
2.3 |
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công |
Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây: a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này; c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. |
|
2.4 |
Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều 191 phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có). |
|
Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành, bao gồm các căn cứ xác định, trình tự xử lý, trách nhiệm xác minh định kỳ và cơ chế xử lý hồ sơ khi người phải thi hành án chưa có khả năng thực hiện nghĩa vụ. So với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025), quy định mới đã cụ thể hóa hơn cơ chế quản lý đối với các vụ việc chưa có điều kiện thi hành, đồng thời giảm áp lực tồn đọng hồ sơ thông qua việc phân loại và xử lý phù hợp.
Xem thêmĐiều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 kế thừa nền tảng của Điều 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025) nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung theo hướng toàn diện hơn nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý trong thực tiễn tổ chức thi hành án. Những điểm mới này góp phần làm rõ căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và hạn chế tình trạng kéo dài các vụ việc thi hành án không có khả năng thực hiện.
Xem thêmLuật Thi hành án dân sự năm 2025 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung mang tính toàn diện, nhằm hoàn thiện thể chế, tổ chức và cơ chế vận hành của hoạt động thi hành án dân sự. Các quy định mới thể hiện rõ định hướng hiện đại hóa, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu quả thi hành án trong giai đoạn mới.
Xem thêmBản án số 42/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 tại Tòa án nhân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.
Xem thêm