Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành, bao gồm các căn cứ xác định, trình tự xử lý, trách nhiệm xác minh định kỳ và cơ chế xử lý hồ sơ khi người phải thi hành án chưa có khả năng thực hiện nghĩa vụ. So với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025), quy định mới đã cụ thể hóa hơn cơ chế quản lý đối với các vụ việc chưa có điều kiện thi hành, đồng thời giảm áp lực tồn đọng hồ sơ thông qua việc phân loại và xử lý phù hợp.
“Điều 38. Việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
b) Trường hợp bản án, quyết định tuyên xử lý tài sản nhưng tại thời điểm thi hành án, kết quả xác minh cho thấy tài sản đó không còn hoặc không xác định được nơi có động sản hoặc tài sản đó đã bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao cho người khác nuôi dưỡng hoặc chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người được giao nuôi dưỡng;
d) Thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không sử dụng được mà đương sự không có thỏa thuận khác; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ đó không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được hoặc đã thực hiện chuyển giao cho cơ quan ban hành giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này;
đ) Trường hợp thi hành nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ không được chuyển giao nhưng người đó bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
e) Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp mà giá trị của tài sản đó nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc bán tài sản quy định tại điểm d khoản 3 Điều 78 của Luật này nhưng sau khi giảm giá mà giá trị tài sản bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
g) Trường hợp bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 83 của Luật này mà giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án và người được thi hành án không nhận để trừ vào tiền được thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án có thu nhập, tài sản khác để thi hành án;
h) Tài sản của người phải thi hành án đang bị thu giữ, xử lý để bảo đảm cho khoản nợ xấu theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà người phải thi hành án không có thu nhập, tài sản khác để thi hành án.
2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được đăng tải trên cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án ra quyết định tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp đã gửi lại yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều này.
3. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; đối với người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì ít nhất 01 năm một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án.
4. Hết thời hạn 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án và đã xác minh theo quy định tại khoản 3 Điều này mà không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án. Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành án trở lại theo quy định tại Điều 34 của Luật này khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu văn phòng thi hành án dân sự thi hành án theo quy định tại Điều 31 của Luật này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”
.png)
Khoản 1 Điều 38 quy định tám nhóm căn cứ để xác định việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành. Các trường hợp này không chỉ bao gồm việc người phải thi hành án không có tài sản hoặc thu nhập để thi hành án mà còn mở rộng sang các trường hợp tài sản không còn tồn tại, tài sản không đủ giá trị để xử lý, nghĩa vụ gắn với nhân thân không thể thực hiện hoặc tài sản đang được ưu tiên xử lý theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Việc liệt kê cụ thể các căn cứ góp phần hạn chế tình trạng áp dụng tùy nghi, đồng thời tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho cơ quan thi hành án dân sự khi ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án.
Tuy nhiên, một số căn cứ vẫn mang tính định tính và chưa được hướng dẫn cụ thể. Chẳng hạn, quy định người phải thi hành án “có thu nhập nhưng chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu” chưa xác định rõ tiêu chí đánh giá mức sống tối thiểu. Pháp luật hiện hành chưa quy định căn cứ xác định mức thu nhập tối thiểu được áp dụng theo mức chuẩn hộ nghèo, mức lương cơ sở vùng hay dựa trên nhu cầu sinh hoạt thực tế của từng địa phương. Tương tự, việc xác định tài sản “chỉ đủ thanh toán chi phí cưỡng chế” cũng chưa có phương pháp tính thống nhất, dễ dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các cơ quan thi hành án.
Khoản 2 Điều 38 quy định việc công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành trên Cổng thông tin điện tử về thi hành án dân sự và niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời quy định khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án thì Chấp hành viên phải tiến hành xác minh trong thời hạn mười ngày và ra quyết định tiếp tục thi hành án nếu người phải thi hành án đã có điều kiện thực hiện nghĩa vụ.
Nội dung này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 23 Nghị định 152/2026/NĐ-CP. Theo đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải công khai các thông tin gồm: tên, địa chỉ của người phải thi hành án; bản án, quyết định phải thi hành; quyết định thi hành án; nghĩa vụ chưa có điều kiện thi hành và lý do chưa có điều kiện thi hành trên Cổng hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý thi hành án dân sự và gửi quyết định đến Ủy ban nhân dân cấp xã để niêm yết. Khi có sự thay đổi về tên, địa chỉ, nghĩa vụ hoặc điều kiện thi hành án, cơ quan thi hành án phải cập nhật trong thời hạn 03 ngày làm việc. Đồng thời, khi có quyết định đình chỉ thi hành án, quyết định tiếp tục thi hành án, quyết định thu hồi quyết định chưa có điều kiện thi hành án hoặc khi người phải thi hành án đã hoàn thành nghĩa vụ thì cơ quan thi hành án phải chấm dứt việc công khai thông tin trong thời hạn 03 ngày làm việc, còn Ủy ban nhân dân cấp xã phải chấm dứt việc niêm yết trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo.
Có thể thấy, Nghị định 152/2026/NĐ-CP đã khắc phục khoảng trống của Luật khi quy định rõ thời hạn công khai, cập nhật và chấm dứt công khai thông tin. Những quy định này góp phần bảo đảm tính minh bạch, tránh tình trạng thông tin của người phải thi hành án tiếp tục được công khai sau khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ hoặc khi quyết định chưa có điều kiện thi hành án không còn hiệu lực.
Mặc dù vậy, quy định về công khai thông tin vẫn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Việc đăng tải công khai họ tên, địa chỉ và nghĩa vụ thi hành án có thể ảnh hưởng đến quyền về đời sống riêng tư, danh dự và uy tín của người phải thi hành án, đặc biệt trong trường hợp họ thực sự không còn khả năng tài chính chứ không phải cố tình trốn tránh nghĩa vụ. Bên cạnh đó, pháp luật chưa quy định rõ phạm vi khai thác, sử dụng thông tin sau khi được công khai cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi sử dụng những dữ liệu này, từ đó tiềm ẩn nguy cơ thông tin bị khai thác sai mục đích hoặc lan truyền ngoài phạm vi cần thiết.
Khoản 3 Điều 38 quy định Chấp hành viên có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án định kỳ sáu tháng một lần; riêng đối với người đang chấp hành hình phạt tù còn từ hai năm trở lên hoặc không xác định được nơi cư trú thì xác minh ít nhất một năm một lần. Quy định này thể hiện trách nhiệm của cơ quan thi hành án trong việc thường xuyên theo dõi sự thay đổi về điều kiện thi hành án, tránh tình trạng hồ sơ bị "treo" trong thời gian dài.
Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng vụ việc chưa có điều kiện thi hành hiện nay rất lớn, trong khi biên chế Chấp hành viên và nguồn lực của cơ quan thi hành án còn hạn chế. Việc thực hiện xác minh định kỳ đối với tất cả các hồ sơ theo chu kỳ sáu tháng hoặc một năm tiêu tốn nhiều thời gian và chi phí nhưng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả, đặc biệt đối với những trường hợp người phải thi hành án đã mất khả năng tài chính trong thời gian dài hoặc không có bất kỳ biến động nào về tài sản. Điều này dẫn đến việc xác minh nhiều khi chỉ mang tính hình thức, làm gia tăng khối lượng công việc hành chính mà chưa thực sự nâng cao hiệu quả thi hành án.
Khoản 4 Điều 38 là điểm mới đáng chú ý khi quy định sau 02 năm kể từ ngày có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu đã thực hiện việc xác minh định kỳ mà vẫn không có thông tin mới về điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự gửi lại yêu cầu thi hành án cho đương sự. Đương sự có quyền yêu cầu thi hành án trở lại khi phát hiện người phải thi hành án có điều kiện thi hành hoặc có quyền yêu cầu Văn phòng thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định của Luật.
.png)
Quy định này được hướng dẫn chi tiết tại Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP. Theo đó, đối với các vụ việc cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án thì sau hai năm sẽ được chuyển sang sổ theo dõi riêng để quản lý thống kê. Khi phát sinh thông tin mới về điều kiện thi hành án, Chấp hành viên tiếp tục xác minh và tổ chức thi hành theo quy định của pháp luật. Đối với các vụ việc thi hành án theo yêu cầu, cơ quan thi hành án phải thông báo bằng văn bản về việc gửi lại yêu cầu thi hành án cho người đã yêu cầu, đồng thời sao lưu toàn bộ yêu cầu và tài liệu trong hồ sơ để phục vụ việc khôi phục thi hành án sau này; thông báo này cũng phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền nhằm bảo đảm hoạt động kiểm sát việc thi hành án. Khi người được thi hành án yêu cầu thi hành án trở lại, họ phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành; nếu có căn cứ xác định thông tin này là đúng thì cơ quan thi hành án mới ra quyết định thi hành án và tiếp tục tổ chức thi hành.
Có thể thấy, Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa trình tự xử lý hồ sơ sau thời hạn hai năm, phân biệt rõ giữa trường hợp thi hành án theo yêu cầu và trường hợp chủ động thi hành án, đồng thời bổ sung cơ chế lưu giữ hồ sơ, thông báo cho Viện kiểm sát và điều kiện khôi phục việc thi hành án. Các quy định này góp phần bảo đảm tính liên tục của quá trình thi hành án, đồng thời giảm áp lực lưu trữ hồ sơ tồn đọng tại cơ quan thi hành án.
Tuy nhiên, quy định này cũng phát sinh một số bất cập. Sau khi hồ sơ được gửi lại cho người được thi hành án, nghĩa vụ theo dõi điều kiện thi hành án trên thực tế chuyển sang cho chính người được thi hành án. Trong khi đó, họ thường không có thẩm quyền cũng như điều kiện để tiếp cận thông tin về tài sản, tài khoản ngân hàng, quyền sử dụng đất hoặc các nguồn thu nhập của người phải thi hành án. Điều 22 Nghị định 152/2026/NĐ-CP còn yêu cầu người yêu cầu thi hành án trở lại phải cung cấp tài liệu chứng minh người phải thi hành án đã có điều kiện thi hành, vô hình trung đặt gánh nặng chứng minh lên người được thi hành án. Đây là yêu cầu khó thực hiện trong thực tiễn vì phần lớn các thông tin về tài sản đều do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức tín dụng quản lý. Nếu không có cơ chế hỗ trợ tiếp cận thông tin, nhiều trường hợp người phải thi hành án đã phát sinh tài sản nhưng người được thi hành án vẫn không có khả năng phát hiện để yêu cầu thi hành án trở lại, dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo đảm đầy đủ.
KẾT LUẬN
Nhìn chung, Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 cùng với Điều 22 và Điều 23 Nghị định 152/2026/NĐ-CP đã tạo lập khuôn khổ pháp lý khá đầy đủ đối với việc xử lý các vụ việc chưa có điều kiện thi hành án, từ việc xác định căn cứ, công khai thông tin, xác minh định kỳ đến cơ chế xử lý hồ sơ sau hai năm và khôi phục việc thi hành án khi có điều kiện. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn, cần tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí xác định điều kiện thi hành án; xây dựng cơ chế cân bằng giữa yêu cầu công khai thông tin với quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời tăng cường kết nối cơ sở dữ liệu giữa cơ quan thi hành án với cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan thuế, ngân hàng và các cơ quan quản lý tài sản để giảm gánh nặng xác minh cho Chấp hành viên cũng như hạn chế việc chuyển trách nhiệm chứng minh sang người được thi hành án.
CÔNG TY LUẬT TNHH MAJOR CONSULTANTS
Hotline: 0911.688.554
Email: congtyluatmajor@gmail.com
Địa chỉ: Phòng 2703A, Tòa Rox Tower, 136 Hồ Tùng Mậu, Phường Phú Diễn, Thành phố Hà Nội
Website: https://majorconsultants.vn
Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 kế thừa nền tảng của Điều 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025) nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung theo hướng toàn diện hơn nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý trong thực tiễn tổ chức thi hành án. Những điểm mới này góp phần làm rõ căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và hạn chế tình trạng kéo dài các vụ việc thi hành án không có khả năng thực hiện.
Xem thêmLuật Thi hành án dân sự năm 2025 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung mang tính toàn diện, nhằm hoàn thiện thể chế, tổ chức và cơ chế vận hành của hoạt động thi hành án dân sự. Các quy định mới thể hiện rõ định hướng hiện đại hóa, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu quả thi hành án trong giai đoạn mới.
Xem thêmBản án số 42/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 tại Tòa án nhân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.
Xem thêmBản án số: 12/2023/KDTM-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
Xem thêm