Bản án số: 12/2023/KDTM-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
Bản án số: 12/2023/KDTM-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”
Nội dung vụ án:
Công ty TNHH B và Công ty TNHH nhà thép H có thỏa thuận ký Hợp đồng cung cấp bê tông số: HD-0306-2021 ngày 03/6/2021 về việc cung cấp sản phẩm bê tông trộn sẵn.
Thực hiện theo hợp đồng Công ty B đã bán bê tông cho Công ty nhà thép H và đã xuất các hóa đơn giá trị gia tăng qua các hóa đơn tổng cộng: 480.280.000 đồng và Công ty nhà thép H đã thanh toán số tiền 443.890.000 đồng, vậy số tiền còn nợ: 36.390.000 đồng từ ngày 01/4/2022 cho đến nay Công ty nhà thép H chưa thanh toán.
Các bên có thỏa thuận, trường hợp Công ty nhà thép H thanh toán chậm tiền mua bê tông thì ngoài số tiền chậm thanh toán, bên Công ty nhà thép H còn có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi chậm thanh toán và tiền phạt vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật Thương Mại 2005.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định:
Nguyên đơn cung cấp các hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền bị đơn phải thanh toán là 480.280.000 đồng và chứng cứ chứng các lần bị đơn thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn với số tiền 443.890.000 đồng. Bị đơn còn nợ số tiền 36.390.000 đồng.
Xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng: Trong hợp đồng hai bên có thỏa thuận phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận mức phạt vi phạm. Nguyên đơn căn cứ Điều 301 Luật thương mại yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán với mức 8% trên số tiền 36.390.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
Buộc Công ty TNHH nhà thép H thành toán cho Công ty TNHH B số tiền: 37.900.185 đồng (Trong đó: tiền nợ gốc 36.390.000 đồng và nợ lãi 1.510.185 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B đối với Công ty TNHH nhà thép H về tiền phạt vi phạm: 2.911.200 đồng.
Bản án số 42/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 tại Tòa án nhân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.
Xem thêmCăn cứ pháp lý: - Bộ Luật Tố tụng Dân sự - Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017
Xem thêmCơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xem thêm