ĐIỂM MỚI CỦA QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THI HÀNH ÁN CHƯA CÓ ĐIỀU KIỆN THI HÀNH THEO ĐIỀU 38 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2025

ĐIỂM MỚI CỦA QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THI HÀNH ÁN CHƯA CÓ ĐIỀU KIỆN THI HÀNH THEO ĐIỀU 38 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2025

Ngày 04-07-2026 Lượt xem 46

Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 kế thừa nền tảng của Điều 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025) nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung theo hướng toàn diện hơn nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý trong thực tiễn tổ chức thi hành án. Những điểm mới này góp phần làm rõ căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và hạn chế tình trạng kéo dài các vụ việc thi hành án không có khả năng thực hiện.

Thứ nhất, Điều 38 bổ sung thời hạn cụ thể để ban hành quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, theo đó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án. Trong khi đó, Điều 44a Luật năm 2008 chỉ quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định căn cứ vào kết quả xác minh điều kiện thi hành án mà không quy định thời hạn thực hiện. Khoảng trống này dẫn đến thực tiễn nhiều vụ việc dù đã xác minh đầy đủ nhưng cơ quan thi hành án vẫn chậm ban hành quyết định, kéo dài tình trạng hồ sơ ở trạng thái "chờ xử lý". Việc chậm xác định vụ việc chưa có điều kiện thi hành không chỉ ảnh hưởng đến quyền được biết của người được thi hành án mà còn làm sai lệch số liệu thống kê, phân loại án, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự. Việc bổ sung thời hạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án, tránh tình trạng chậm ban hành quyết định làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các đương sự cũng như công tác thống kê, phân loại án.

Thêm vào đó, Luật năm 2025 còn thay đổi căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ ra quyết định. Nếu Điều 44a Luật năm 2008 quy định quyết định được ban hành “căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án”, thì Điều 38 quy định quyết định được ban hành “kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây”. Sự thay đổi này tuy nhỏ về mặt ngôn ngữ nhưng có ý nghĩa pháp lý đáng kể. “Kết quả xác minh” chỉ là một loại tài liệu chứng minh, trong khi “có căn cứ” là khái niệm rộng hơn, bao gồm toàn bộ cơ sở pháp lý và thực tế chứng minh rằng người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành. Điều này cho phép cơ quan thi hành án linh hoạt hơn trong việc xác định thời điểm ban hành quyết định, miễn là đã có đủ căn cứ hợp pháp theo luật định, thay vì phụ thuộc cứng nhắc vào một kết quả xác minh theo nghĩa hẹp.

Thứ hai, phạm vi các trường hợp được xác định là chưa có điều kiện thi hành án đã được mở rộng đáng kể. Nếu Điều 44a Luật năm 2008 chỉ quy định ba nhóm trường hợp thì Điều 38 Luật năm 2025 đã mở rộng lên tám trường hợp, phản ánh đầy đủ hơn các tình huống phát sinh trong thực tiễn.

Đối với điểm a, Luật cơ bản kế thừa quy định cũ nhưng tiếp tục khẳng định nguyên tắc bảo đảm mức sống tối thiểu của người phải thi hành án và người mà họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Đây là sự cân bằng giữa quyền được thi hành án của chủ nợ và quyền được bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người phải thi hành án. Đồng thời, vẫn duy trì nguyên tắc chỉ xác định chưa có điều kiện thi hành khi người phải thi hành án không có tài sản hoặc tài sản không đủ giá trị để thi hành, qua đó tránh việc lợi dụng quy định này để trốn tránh nghĩa vụ.

Đ ối với các điểm b, đ, e, g và h, đây đều là những trường hợp hoàn toàn mới so với Luật năm 2008. Các quy định này phản ánh sự thay đổi trong thực tiễn thi hành án những năm gần đây, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, bán đấu giá tài sản nhiều lần nhưng không thành, tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu hoặc nghĩa vụ gắn liền với nhân thân. Trước đây, các tình huống này thường khiến cơ quan thi hành án lúng túng vì không có căn cứ pháp lý rõ ràng để xác định vụ việc chưa có điều kiện thi hành, dẫn đến việc phải tiếp tục xác minh hoặc tổ chức thi hành nhiều lần dù khả năng thi hành trên thực tế gần như không còn. Việc luật hóa các trường hợp này giúp thống nhất cách áp dụng trên phạm vi cả nước, đồng thời giảm đáng kể chi phí tổ chức thi hành án.

Đối với trường hợp bản án tuyên xử lý tài sản, Luật năm 2025 bổ sung quy định về việc tài sản tại thời điểm thi hành án không còn, không xác định được nơi có động sản hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đã bị thu hồi mà người phải thi hành án không còn tài sản khác để thi hành. Quy định này giải quyết khoảng trống pháp lý trước đây khi nhiều vụ việc không thể tiếp tục thi hành do tài sản bảo đảm đã không còn tồn tại trên thực tế nhưng cũng không đủ điều kiện để xác định là chưa có điều kiện thi hành án.

Đối với điểm c, Luật năm 2025 đã sửa đổi theo hướng phù hợp hơn với bản chất của nghĩa vụ thi hành án trong các vụ việc hôn nhân và gia đình. Thay vì chỉ đề cập đến trường hợp không xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng như Luật cũ, quy định mới tập trung vào trường hợp không xác định được địa chỉ của người được giao cho người khác nuôi dưỡng hoặc người được giao nuôi dưỡng. Sự điều chỉnh này phản ánh đúng vướng mắc thực tiễn, bởi việc thi hành nghĩa vụ giao con hoặc cấp dưỡng nhiều khi không thể thực hiện không phải vì không tìm được người phải thi hành án, mà do không xác định được nơi cư trú của người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc người được giao nuôi dưỡng.

Đối với nghĩa vụ trả vật đặc định hoặc trả giấy tờ, Điều 38 cũng có sự điều chỉnh theo hướng chặt chẽ hơn. Ngoài việc kế thừa trường hợp vật đặc định không còn hoặc bị hư hỏng, Luật năm 2025 còn quy định rõ trường hợp giấy tờ đã được chuyển giao cho cơ quan ban hành theo quy định của pháp luật thì cũng được xác định là chưa có điều kiện thi hành án. Quy định này khắc phục những vướng mắc thực tiễn khi giấy tờ gốc không còn khả năng thu hồi nhưng đã được cơ quan nhà nước quản lý theo quy định pháp luật.

Một điểm mới quan trọng khác là bổ sung trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người phải thi hành án nhưng người đó bị Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự. Đây là trường hợp hoàn toàn chưa được điều chỉnh trong Luật năm 2008. Việc bổ sung căn cứ này bảo đảm tính khả thi của hoạt động thi hành án, bởi nhiều nghĩa vụ mang tính nhân thân không thể chuyển giao cho người khác thực hiện.

Ngoài ra, Luật năm 2025 lần đầu tiên quy định cụ thể các trường hợp liên quan đến tài sản bảo đảm và xử lý tài sản không còn giá trị thi hành án. Theo đó, trường hợp tài sản đang cầm cố, thế chấp nhưng giá trị tài sản thấp hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế; hoặc tài sản sau nhiều lần giảm giá chỉ còn giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí thi hành án; hoặc tài sản đang bị xử lý để thu hồi nợ xấu theo Luật Các tổ chức tín dụng thì đều có thể được xác định là chưa có điều kiện thi hành án nếu người phải thi hành án không còn tài sản, thu nhập khác. Những quy định này phản ánh thực tiễn phổ biến trong hoạt động thi hành án dân sự, đặc biệt đối với các vụ việc liên quan đến tín dụng, ngân hàng và xử lý tài sản bảo đảm. Trước đây, Điều 44a không có quy định điều chỉnh các trường hợp này, dẫn đến nhiều vụ việc phải xác minh, kê biên, bán đấu giá nhiều lần nhưng vẫn không thể kết thúc.

Có thể thấy, Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 không chỉ kế thừa mà còn hoàn thiện đáng kể quy định về việc xác định án chưa có điều kiện thi hành. Việc mở rộng các căn cứ xác định, quy định thời hạn ra quyết định, bổ sung các trường hợp phát sinh trong thực tiễn và tách riêng cơ chế công khai thông tin đã góp phần nâng cao tính minh bạch, khả thi và hiệu quả của hoạt động thi hành án dân sự. Đồng thời, các sửa đổi này cũng giúp hạn chế tình trạng cơ quan thi hành án phải tiếp tục tổ chức thi hành đối với những vụ việc thực tế không còn khả năng thi hành, qua đó tiết kiệm chi phí, nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Xem thêm: MỘT SỐ QUY ĐỊNH MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2025

CÔNG TY LUẬT TNHH MAJOR CONSULTANTS 

Hotline: 0911.688.554

Email: congtyluatmajor@gmail.com

Địa chỉ: Phòng 2703A, Tòa Rox Tower, 136 Hồ Tùng Mậu, Phường Phú Diễn, Thành phố Hà Nội

Website: https://majorconsultants.vn

Tin liên quan
PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THI HÀNH ÁN CHƯA CÓ ĐIỀU KIỆN THI HÀNH THEO ĐIỀU 38 LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2025 VÀ ĐIỀU 22, ĐIỀU 23 NGHỊ ĐỊNH 152/2026/NĐ-CP

06/07/2026

Tranh tụng

Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành, bao gồm các căn cứ xác định, trình tự xử lý, trách nhiệm xác minh định kỳ và cơ chế xử lý hồ sơ khi người phải thi hành án chưa có khả năng thực hiện nghĩa vụ. So với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025), quy định mới đã cụ thể hóa hơn cơ chế quản lý đối với các vụ việc chưa có điều kiện thi hành, đồng thời giảm áp lực tồn đọng hồ sơ thông qua việc phân loại và xử lý phù hợp.

Xem thêm
MỘT SỐ QUY ĐỊNH MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2025

17/06/2026

Tranh tụng

Luật Thi hành án dân sự năm 2025 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung mang tính toàn diện, nhằm hoàn thiện thể chế, tổ chức và cơ chế vận hành của hoạt động thi hành án dân sự. Các quy định mới thể hiện rõ định hướng hiện đại hóa, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu quả thi hành án trong giai đoạn mới.

Xem thêm
Bản Án Số 42/2023/DS-ST Ngày 24/4/2023

29/11/2024

Tranh tụng

Bản án số 42/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 tại Tòa án nhân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.

Xem thêm
Bản Án Số: 12/2023/KDTM-ST Ngày 29/3/2023

29/11/2024

Tranh tụng

Bản án số: 12/2023/KDTM-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

Xem thêm
Luôn sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ, giải đáp 24/7
liên hệ trực tiếp với chúng tôi
Liên hệ wiget Chat Zalo Messenger Chat