Bản Án Hôn Nhân Và Gia Đình Phúc Thẩm Số 25/2022/HNGĐ-PT Ngày 19 Tháng 9 Năm 2022 Của Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Bình Dương Về Việc ‘’Tranh Chấp Về Chia Tài Sản Chung Sau Khi Ly Hôn’’

Bản Án Hôn Nhân Và Gia Đình Phúc Thẩm Số 25/2022/HNGĐ-PT Ngày 19 Tháng 9 Năm 2022 Của Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Bình Dương Về Việc ‘’Tranh Chấp Về Chia Tài Sản Chung Sau Khi Ly Hôn’’

Ngày 28-11-2024 Lượt xem 32768

Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 25/2022/HNGĐ-PT ngày 19 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Về việc: “Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn”

Tóm tắt nội dung vụ án:

Bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Trần Trọng N là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 74/2021/QĐSTHNGĐ ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống hai ông, bà có 02 con chung là Trần Ngọc N, sinh năm 2000 và Trần Thư Th, sinh năm 2006. Về tài sản trong quá trình chung sống hai ông, bà có tài sản chung gồm có: quyền sử dụng đất có diện tích 89,0m2 thuộc thửa số 2857, tờ bản đồ số 3DH.1 tọa lạc khu phố Tây B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trên đất gắn liền là 01 căn nhà 02 tầng có diện tích sàn 75,1m2. Vì lý do, khi ly hôn chưa chia tài sản chung nên nay bà Th khởi kiện ông N yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chia tài sản chung sau khi ly hôn với ông N. Bà Th yêu cầu chia đôi tài sản chung và được hưởng ½ giá trị tài sản, ông N là người nhận đất có trách nhiệm thanh toán cho bà Th ½ giá trị tài sản.

Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm quyết định:

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 74/2022/HNGĐ-ST ngày 02/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc Th về việc tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn với bị đơn ông Trần Trọng N.

Ông Trần Trọng N được quyền sử dụng đất có diện tích 89,0m2, thuộc thửa đất số 2857, tờ bản đồ số 3DH.1 tọa lạc khu phố Tây B, phường Đông Hòa, thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ024502, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH07583 do Uỷ ban nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) cấp ngày 17/5/2014 cấp cho ông Trần Trọng N, bà Phạm Thị Ngọc Th và 01 căn nhà 02 tầng có diện tích sàn 75,1m2 (có bản vẽ kèm theo).

Ông Trần Trọng N có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Ngọc Th 35% giá trị tài sản với tổng số tiền là 1.229.728.600 (một tỷ hai trăm hai mươi chín triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn sáu trăm) đồng.

Ngày 14/6/2022, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An có Quyết định kháng nghị số 03/QĐ-VKS-HNGĐ kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm theo hướng giảm tỉ lệ chia tài sản cho N đơn.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm nhận định:

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Trọng N: Nguyên đơn (bà Phạm Thị Ngọc Th) và bị đơn (ông Trần Trọng N) là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 74/2021/QĐSTHNGĐ ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống về tài sản gồm có: quyền sử dụng đất có diện tích 89,0m2 thuộc thửa số 2857, tờ bản đồ số 3DH.1 tọa lạc khu phố Tây B, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trên đất gắn liền là 01 căn nhà 02 tầng có diện tích sàn 75,1m2.

Tài sản chung hai bên thống nhất xác định: Nguồn gốc đất là do cha, mẹ bị đơn (ông Trần Ngọc Đang và bà Đinh Thị Thu Phượng) cho bị đơn vào năm 2002. Quá trình sử dụng nhà ở thì Nguyên đơn và bị đơn cùng sử dụng, quản lý nhà đất và có sửa chữa nhà. Việc bị đơn thống nhất làm thủ tục nhà, đất và để cho Nguyên đơn cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện ý chí của bị đơn đồng ý nhập khối tài sản chung nhà đất là tài sản chung của Nguyên đơn và bị đơn. Từ khi nhận Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bị đơn không khiếu nại hay thắc mắc gì. Do đó căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, thì tài sản tranh chấp trên là tài sản chung của Nguyên đơn và bị đơn trong thời kỳ hôn nhân.

Tài sản chung của hai bên được chia theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình. Do nguồn gốc nhà, đất do cha mẹ bị đơn tặng cho mà có và hiện nay bị đơn đang trực tiếp cùng 02 con (Trần Ngọc N và Trần Thư Th) sống trong căn nhà, đất tranh chấp; hơn nữa Nguyên đơn chỉ yêu cầu được nhận bằng giá trị tài sản (không yêu cầu nhận hiện vật) nên Tòa án sơ thẩm giao toàn bộ tài sản tranh chấp bằng hiện vật cho bị đơn sở hữu, sử dụng là có căn cứ.

Về phía Nguyên đơn hiện nay cũng chưa có chỗ ở ổn định, phải thuê nhà trọ để ở, do đó Tòa án sơ thẩm đã xem xét hoàn cảnh cũng như công sức của các bên và chia cho Nguyên đơn 35% khối tài sản tranh chấp; chia cho bị đơn 65% khối tài sản tranh chấp. Bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho Nguyên đơn 35% giá trị khối tài sản tranh chấp tương ứng với số tiền là 1.229.728.6000 đồng là hợp lý và phù hợp với quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của N đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bị đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị số 03/QĐVKS-HNGĐ ngày 14/6/2022 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Trọng N: Giữ N Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 74/2022/HNGĐ-ST ngày 02/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

 

Tin liên quan
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

30/06/2026

Hôn nhân - Gia đình

Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng khi giải quyết tranh chấp tài sản, ly hôn hoặc thực hiện các giao dịch dân sự. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc phân định tài sản được căn cứ chủ yếu vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc hình thành tài sản.

Xem thêm
Quy Định Của Pháp Luật Về Ly Hôn

24/12/2024

Hôn nhân - Gia đình

Đang gặp khó khăn trong vấn đề ly hôn? Tìm hiểu đầy đủ về thủ tục, điều kiện và các vấn đề liên quan theo quy định của pháp luật Việt Nam tại bài viết này.

Xem thêm
Ai Là Người Có Quyền Nuôi Con Sau Ly Hôn

24/12/2024

Hôn nhân - Gia đình

Tìm hiểu ai được quyền nuôi con sau ly hôn? Luật pháp quy định gì về quyền nuôi con? Căn cứ nào để tòa án quyết định? Đọc ngay để biết thêm thông tin.

Xem thêm
Chia Tài Sản Sau Ly Hôn - Những Lưu Ý Bạn Cần Biết

04/12/2024

Hôn nhân - Gia đình

Chia tài sản sau ly hôn như thế nào? Làm thế nào để đảm bảo quyền lợi? Hãy cùng tìm hiểu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Xem thêm
Luôn sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ, giải đáp 24/7
liên hệ trực tiếp với chúng tôi
Liên hệ wiget Chat Zalo Messenger Chat