Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1. Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
2. Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
3. Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
4. Trường hợp khác do luật quy định.
Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu trừ các khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
a) Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;
b) Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
Điều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 quy định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành, bao gồm các căn cứ xác định, trình tự xử lý, trách nhiệm xác minh định kỳ và cơ chế xử lý hồ sơ khi người phải thi hành án chưa có khả năng thực hiện nghĩa vụ. So với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025), quy định mới đã cụ thể hóa hơn cơ chế quản lý đối với các vụ việc chưa có điều kiện thi hành, đồng thời giảm áp lực tồn đọng hồ sơ thông qua việc phân loại và xử lý phù hợp.
Xem thêmĐiều 38 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 kế thừa nền tảng của Điều 44a Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020, 2022 và 2025) nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung theo hướng toàn diện hơn nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý trong thực tiễn tổ chức thi hành án. Những điểm mới này góp phần làm rõ căn cứ xác định việc chưa có điều kiện thi hành án, bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và hạn chế tình trạng kéo dài các vụ việc thi hành án không có khả năng thực hiện.
Xem thêmLuật Thi hành án dân sự năm 2025 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung mang tính toàn diện, nhằm hoàn thiện thể chế, tổ chức và cơ chế vận hành của hoạt động thi hành án dân sự. Các quy định mới thể hiện rõ định hướng hiện đại hóa, tinh gọn bộ máy và tăng cường hiệu quả thi hành án trong giai đoạn mới.
Xem thêmBản án số 42/2023/DS-ST ngày 24/4/2023 tại Tòa án nhân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư”.
Xem thêm