Căn cứ pháp lý:
- Luật Trọng tài thương mại 2010
- Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014
I. Thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Thoả thuận trọng tài vô hiệu là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại bao gồm:
1.Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật Trọng tài thương mại.
Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
“Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật” là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.
Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự.
“Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự” là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này thì Tòa án cần thu thập chứng cứ để chứng minh người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự thì phải có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật Trọng tài thương mại.
“Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM” là trường hợp thỏa thuận trọng tài không được xác lập bằng một trong các hình thức quy định tại Điều 16 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.
5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
“Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài” là trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo quy định tại Điều 4, Điều 132 của Bộ luật dân sự.
6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
“Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật” là thỏa thuận thuộc trường hợp quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự.
II. Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
“Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.
2. Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
3. Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
4. Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.
5. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật Trọng tài thương mại nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.
Ngày 26/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 396/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. Nghị định mới tập trung điều chỉnh thủ tục đăng ký tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia, đăng ký và điều chỉnh dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước, thay đổi thành phần tham gia dự án, hủy đăng ký dự án và cấp tín chỉ các-bon. Những thay đổi này góp phần hoàn thiện quy trình quản lý, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền và tổ chức tham gia dự án.
Xem thêmSử dụng dao có tính sát thương cao gây thương tích cho người khác có thể khiến người thực hiện hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội danh: Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng và Tội cố ý gây thương tích. Theo Công văn số 01/TANDTC-PC ngày 05/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao, việc xác định tội danh phụ thuộc vào tính chất của hành vi, mức độ thương tích và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Xem thêmNgày 18/8/2026, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 03/2026/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 15/10/2026, làm rõ các vấn đề về hiệu lực thỏa thuận đặt cọc, xử lý vi phạm, thẩm quyền giải quyết tranh chấp và thời hiệu khởi kiện.
Xem thêmBán nhà khi chưa đủ điều kiện tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý cho cả doanh nghiệp và người mua. Theo Luật Kinh doanh bất động sản 2023, nhà ở đưa vào kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện về pháp lý, đất đai, xây dựng, nghiệm thu và công khai thông tin. Từ ngày 26/8/2026, Nghị định 339/2026/NĐ-CP quy định mức phạt lên đến 1 tỷ đồng đối với hành vi đưa nhà ở, công trình xây dựng vào kinh doanh khi chưa đủ điều kiện. Một số trường hợp còn phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã thu và lợi tức phát sinh.
Xem thêmSau gần 20 năm thi hành, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012) đã góp phần xây dựng cơ sở pháp lý cho việc điều tiết thu nhập của cá nhân và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trước sự thay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội, sự phát triển của nền kinh tế số và sự xuất hiện của nhiều loại hình thu nhập mới, một số quy định của Luật cũ đã bộc lộ những hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Vì vậy, Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2025 được ban hành nhằm hoàn thiện chính sách thuế theo hướng hiện đại, bảo đảm công bằng hơn trong điều tiết thu nhập và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế. So với Luật năm 2007, Luật năm 2025 có nhiều sửa đổi đáng chú ý, tập trung vào phạm vi thu nhập chịu thuế, phương pháp tính thuế, biểu thuế, các khoản giảm trừ và chính sách miễn, giảm thuế.
Xem thêm