PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CHUNG VÀ VIỆC CẤP DƯỠNG KHI CHA MẸ LY HÔN

PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CHUNG VÀ VIỆC CẤP DƯỠNG KHI CHA MẸ LY HÔN

Ngày 25-07-2026 Lượt xem 4

A. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CHUNG KHI CHA MẸ LY HÔN

1. Về quyền trực tiếp nuôi con chung

Khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”

Vậy, khi ly hôn, cha mẹ có quyền thỏa thuận về việc ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Nếu hai người không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét giải quyết. Tòa án giải quyết theo nguyên tắc quyền lợi về mọi mặt của con để phân định người trực tiếp nuôi dưỡng, theo quy định tại Điều 81, 82, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và được cụ thể hóa tại Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP. Toà khuyến khích sự phối hợp giữa cha mẹ để hạn chế tác động tiêu cực đối với con.

Xét về độ tuổi của con:

- Trẻ dưới 36 tháng tuổi: Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Vậy con dưới 36 tháng tuổi sẽ ưu tiên giao cho mẹ nuôi, trừ trường hợp mẹ không đủ điều kiện hoặc có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Quy định này thể hiện sự ưu tiên bảo vệ quyền lợi của trẻ dưới 36 tháng tuổi, bởi đây là giai đoạn trẻ cần sự chăm sóc trực tiếp và gắn bó đặc biệt với người mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho mẹ không phải là nguyên tắc tuyệt đối, bởi Tòa án vẫn có thể giao con cho người cha nếu người mẹ không đủ điều kiện chăm sóc hoặc các bên có thỏa thuận khác bảo đảm tốt hơn lợi ích của trẻ.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định:

“3. Người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp người mẹ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị bệnh nặng khác mà không thể tự chăm sóc bản thân hoặc không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

Ví dụ: Trường hợp người mẹ bị đột quỵ và liệt nửa người, không còn khả năng đi lại thì Tòa án không giao con dưới 36 tháng tuổi cho người mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

b) Có thu nhập mỗi tháng thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người mẹ đang cư trú và không có tài sản nào khác để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

c) Người mẹ không có điều kiện về thời gian tối thiểu để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP đã cụ thể hóa khái niệm “người mẹ không đủ điều kiện” tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, qua đó tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để Tòa án đánh giá điều kiện nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Tuy nhiên, khoản 4 cũng quy định: “Trường hợp điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người cha không tốt hơn điều kiện của người mẹ hướng dẫn tại khoản 3 Điều này thì Tòa án quyết định giao con cho mẹ trực tiếp nuôi.”

- Trẻ từ đủ 36 tháng đến dưới 7 tuổi: Tòa án đánh giá toàn diện điều kiện vật chất, tinh thần và môi trường sống căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây:

a) Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột;

b) Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi;

c) Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ;

d) Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con;

đ) Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con;

e) Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con;

g) Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ.”

Quy định này cho thấy Tòa án sẽ đánh giá toàn diện cả điều kiện vật chất và tinh thần của cha, mẹ để xác định người trực tiếp nuôi con. Về vật chất, Tòa án xem xét khả năng bảo đảm thu nhập, chỗ ở và các nhu cầu thiết yếu của trẻ; tuy nhiên, thu nhập cao hơn không đồng nghĩa với việc chắc chắn được giao nuôi con. Bên cạnh đó, các yếu tố tinh thần như thời gian chăm sóc, mức độ gắn bó giữa cha mẹ và con, sự quan tâm trong quá trình nuôi dưỡng và môi trường sống ổn định cũng được đặc biệt coi trọng nhằm bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ.

- Trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên, ngoài các điều kiện đã phân tích trên, nguyện vọng của trẻ được xem là yếu tố bắt buộc phải xem xét, nhưng không phải là tuyệt đối.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình quy định:

“2. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

a) Bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, độ tuổi, mức độ trưởng thành để con có thể bày tỏ đúng và đầy đủ ý kiến của mình;

b) Không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ để tránh gây áp lực tâm lý cho con;

c) Không ép buộc, không gây áp lực, căng thẳng cho con.”

Quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền được bày tỏ ý kiến của trẻ từ đủ 07 tuổi trở lên. Tuy nhiên, nguyện vọng của trẻ chỉ là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét, bởi quyết định cuối cùng vẫn phải dựa trên việc đánh giá toàn diện các điều kiện vật chất, tinh thần và môi trường sống nhằm bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ. Đồng thời, việc lấy ý kiến phải được thực hiện trong điều kiện khách quan, thân thiện, tránh mọi tác động hoặc áp lực từ cha mẹ làm ảnh hưởng đến ý chí thực sự của trẻ.

2. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung

Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”

Quy định này khẳng định nghĩa vụ cấp dưỡng là trách nhiệm pháp lý bắt buộc của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn nhằm bảo đảm điều kiện sinh hoạt, học tập và phát triển của trẻ. Nghĩa vụ cấp dưỡng không phụ thuộc vào việc người không trực tiếp nuôi con có còn chung sống với con hay không, mà xuất phát từ trách nhiệm của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng tự nuôi sống bản thân.

Theo đó việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình:

“Điều 7. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình

1. Trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng thì Tòa án giải thích cho họ việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy người trực tiếp nuôi con có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng và việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện thì Tòa án không buộc bên kia phải cấp dưỡng cho con.

2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.

3. Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng.

4. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

Quy định này cụ thể hóa nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn, đồng thời đặt quyền lợi của con làm yếu tố ưu tiên khi giải quyết tranh chấp. Theo đó, mức cấp dưỡng được xác định dựa trên nhu cầu thực tế của con và khả năng tài chính của người có nghĩa vụ cấp dưỡng; trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định mức và phương thức cấp dưỡng phù hợp. Ngoài ra, nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh từ thời điểm cha, mẹ không còn trực tiếp thực hiện việc nuôi dưỡng con và không phụ thuộc vào việc người trực tiếp nuôi con có yêu cầu hay không.

Ví dụ: Anh A và chị B ly hôn, Toà án giao con chung 8 tuổi cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, anh A không sống cùng con và có thu nhập ổn định 20 triệu đồng/ tháng. Hai bên không thoả thuận được về mcuws câos dưỡng nên chị B uêui cầu toà án giải quyết

B. THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CHUNG VÀ CẤP DƯỠNG THEO BẢN ÁN SỐ 56/2024/HNGĐ-ST

1. Về nội dung vụ án

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 04/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc Đ trình bày: Bà Đ và ông C do tự tìm hiểu, quen biết nhau trước nên tự nguyện tiến đến hôn nhân năm 2002, có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố B vào ngày 11/11/2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc khoảng thời gian đầu, nhưng thời gian sau đó, đến năm 2016, đã phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, mất hạnh phúc do vợ chồng tính tình không còn phù hợp với nhau, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã nhau; bà và ông C đã ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C để mỗi người có cuộc sống riêng.

Về con chung: thời gian sống chung, bà và ông C có với nhau 03 con chung gồm: Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/6/2001, và Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/4/2004, đều đã thành niên và có khả năng lao động; cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/8/2011, hiện đang sống chung với bà Đ. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng theo quy định của pháp luật.

2. Áp dụng hồ sơ bà Đ và ông C

2.1. Về người có quyền trực tiếp nuôi con

* Trường hợp cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/6/2001, và Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/4/2004

Căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan.”

Như vậy, 2 cháu Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/6/2001 (24 tuổi), và Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 19/4/2004 (21 tuổi), đều đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi dân sự và đều có khả năng lao động, vậy nên trong trường hợp này không xem xét đến.

* Trường hợp cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/8/2011

Đối với cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh ngày 10/8/2011, tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu mới 12 tuổi và vẫn là người chưa thành niên. Theo hồ sơ vụ án, cháu T1 đang sinh sống ổn định cùng bà Đ từ nhiều năm nay. Đồng thời, tại biên bản ghi nhận ý kiến của con chưa thành niên, cháu T1 bày tỏ nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Mặt khác, ông C không có ý kiến tranh chấp quyền trực tiếp nuôi con, không đưa ra yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1 cũng như không cung cấp tài liệu chứng minh việc giao con cho mình sẽ bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cháu. Việc giữ nguyên môi trường sống, học tập và sinh hoạt hiện tại của cháu T1 sẽ bảo đảm sự ổn định về tâm lý, điều kiện học tập và phát triển toàn diện của trẻ.

Do đó, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc giao cháu Nguyễn Thị Ngọc T1 cho bà Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với lợi ích mọi mặt của con.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng

Căn cứ vào khoản 2 Điều 82, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

Khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “1. Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.

Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.”

Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.”

Sau khi ly hôn, bà Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, còn ông C là người không trực tiếp nuôi con. Theo khoản 2 Điều 82, Điều 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên. Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của cha, mẹ đối với con và không phụ thuộc vào việc người đó có trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con hay không. Việc ông C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng vừa bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt của cháu T1 vừa thể hiện trách nhiệm của người cha đối với con sau khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.

2.3. Về phương thức cấp dưỡng:

Theo quy định tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Về phương thức cấp dưỡng, căn cứ Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc cấp dưỡng được thực hiện định kỳ hàng tháng. Thời gian thực hiện kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án theo quy định pháp luật.

2.4. Về mức cấp dưỡng:

Theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Đồng thời căn cứ theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”.

Theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, mức cấp dưỡng được xác định dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Trong vụ án này, bà Đ không cung cấp được tài liệu chứng minh thu nhập thực tế của ông C. Đồng thời, hồ sơ vụ án cũng không có căn cứ xác định chính xác mức thu nhập hàng tháng của ông C. Vì vậy, việc áp dụng khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP để xác định mức cấp dưỡng tối thiểu là có cơ sở. Tại thời điểm giải quyết vụ án, nơi cư trú của ông C thuộc vùng II, mức lương tối thiểu vùng là 4.410.000 đồng/tháng. Theo quy định, mức cấp dưỡng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng đối với mỗi người con. Do đó, ông C phải cấp dưỡng cho cháu T1 số tiền 2.205.000 đồng/tháng là phù hợp, bảo đảm mức tối thiểu cần thiết cho việc nuôi dưỡng, học tập của cháu.

2.5. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Căn cứ vào khoản 2 Điều 107 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.”

Theo Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“1. Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.”

2.6. Quyền thăm nom con sau ly hôn

Căn cứ khoản 3 Điều 82: “3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

 Khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con. Không ai được cản trở việc thăm nom hợp pháp. Tuy nhiên, nếu việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của con, thì người trực tiếp nuôi con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, ông C vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con theo khoản 3 Điều 82 và khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Đ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở việc thăm nom hợp pháp của ông C. Ngược lại, nếu ông C lợi dụng việc thăm nom để gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1 hoặc làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu thì bà Đ có quyền yêu cầu Tòa án xem xét hạn chế quyền thăm nom theo quy định của pháp luật.

3. Thay đổi người nuôi con sau ly hôn

Căn cứ vào Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:

“1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội Liên hiệp Phụ nữ.”

Sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, việc giao cháu T1 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng không phải là quyết định bất biến. Theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu phát sinh căn cứ cho thấy bà Đ không còn đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu hoặc việc thay đổi người nuôi con là cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích tốt nhất của cháu T1 thì ông C hoặc các chủ thể có quyền liên quan có thể yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

Đồng thời, do cháu T1 đã trên 07 tuổi nên khi giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải xem xét nguyện vọng của cháu trước khi ra quyết định.

CÔNG TY LUẬT TNHH MAJOR CONSULTANTS 

Hotline: 0911.688.554

Email: congtyluatmajor@gmail.com

Địa chỉ: Phòng 2703A, Tòa Rox Tower, 136 Hồ Tùng Mậu, Phường Phú Diễn, Thành phố Hà Nội

Website: https://majorconsultants.vn

Tin liên quan
ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH VỀ HẠN CHẾ QUYỀN YÊU CẦU LY HÔN CỦA NGƯỜI CHỒNG

20/06/2026

Tri thức pháp lý

Ly hôn là quyền nhân thân cơ bản của vợ chồng, được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm quyền tự do chấm dứt quan hệ hôn nhân khi mục đích hôn nhân không còn đạt được. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn đặt ra một số trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng để bảo vệ người vợ và trẻ em, song cũng làm phát sinh nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Xem thêm
Đầu Tư

31/07/2024

Tri thức pháp lý

Luật sư tư vấn sẽ là những người giúp đỡ cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp rà soát các rủi ro pháp lý có thể xảy ra khi thực hiện một hợp đồng kinh doanh

Xem thêm
Đất Đai Bất Động Sản

31/07/2024

Tri thức pháp lý

Luật sư giỏi chuyên tư vấn, giải quyết tranh chấp đất đai hàng đầu tại Việt Nam. Luật sư giải quyết tranh chấp Đất đai, Thừa kế, Mua bán, Đặt cọc, Bồi thường đất đai. Uy tín.

Xem thêm
Dịch Vụ Doanh Nghiệp

31/07/2024

Tri thức pháp lý

Công ty Luật Major Consultants là địa chỉ uy tín tư vấn luật dân sự và giải quyết tranh chấp dân sự cho nhiều cá nhân và doanh nghiệp trong nhiều năm qua

Xem thêm
Luôn sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ, giải đáp 24/7
liên hệ trực tiếp với chúng tôi
Liên hệ wiget Chat Zalo Messenger Chat