Không xác định nơi ở hiện tại của chồng (bị đơn) là nỗi ám ảnh hàng đầu của chị em khi ly hôn đơn phương. Bởi lẽ không ít trường hợp đã bị Tòa án trả lại Đơn khởi kiện ly hôn. Tuy nhiên, việc trả lại đơn khởi kiện trong nhiều trường hợp là trái pháp luật.
Theo Điều 193 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, khi xem xét Đơn khởi kiện, Thẩm phán có quyền thông báo bằng văn bản yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung Đơn khởi kiện trong đó bao gồm các thông tin liên quan đến nơi cư trú của người bị kiện; trường hợp không sửa đổi, bổ sung thì Thẩm phán trả lại Đơn khởi kiện.
Từ thực tiễn tham gia tranh tụng chúng tôi thấy rằng nhiều Thẩm phán và các cơ quan tiến hành tố tụng tại nhiều địa phương vận dụng thành thạo quy định trên để trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, theo điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, trường hợp trong đơn khởi kiện, người vợ đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người chồng nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người vợ không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người chồng cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân Tối cao cũng đã hướng dẫn khá chi tiết về vấn đề này nhưng việc áp dụng và thực hiện trên thực tế còn nhiều vấn đề cần bàn luận. Cụ thể:
Theo khoản 2, khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” hoặc địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người chồng thì được mới được coi là đã ghi đúng địa.
Như vậy, so với quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán bổ sung quy định theo hướng chi tiết hơn. Qua đó, giảm nhẹ áp lực xác minh cho Tòa án, tránh tình trạng thụ lý không đúng thẩm quyền nhưng lại vô tình tăng thêm trách nhiệm cho người khởi kiện khi phải bổ sung giấy tờ, tài liệu xác nhận nơi cư trú kèm theo Đơn khởi kiện. Chính vì vậy, để tránh các trường hợp bị Thẩm phán trả lại Đơn khởi kiện do không xác định được chồng đang ở đâu, các chị em nên xin xác nhận của Công an xã, phường thị trấn (nơi cư trú cuối cùng của chồng) và nộp kèm xác nhận này cho Tòa án để được xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
Một thực tế khác cũng rất hay gặp trên thực tế đó là trường hợp Tòa án đình chỉ vụ án sau khi Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do người chồng không còn cư trú, làm việc tại địa chỉ mà người vợ đã cung cấp.
Theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, trường hợp trong đơn khởi kiện, người vợ đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc của người chồng nhưng người chồng thay đổi nơi cư trú, làm việc mà không thông báo về nơi cư trú, làm việc theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tổng đạt được.
Nếu không thuộc trường hợp trên mà Tòa án đã yêu cầu cung cấp địa chỉ mới của người chồng nhưng người vợ không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của người chồng theo quy định của pháp luật. Tòa án chỉ được đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của người chồng.
Như vậy, vẫn có thể ly hôn được khi không biết chính xác địa chỉ nơi cư trú của chồng ở đâu. Các hành vi trả lại Đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc nhưng không xuất phát từ các căn cứ pháp luật nêu trên đều là hành vi trái pháp luật. Nếu chị em nào có nhu cầu ly hôn nhưng đã và đang rơi vào hoàn cảnh tương tự, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn và hỗ trợ.
Công ty Luật TNHH Major Consultants